Tổng đài tư vấn

0982744684

Bán lẻ

0982744684

Hỗ trợ nhà thuốc

0982744684

Thông tin về bệnh tăng tiểu cầu nguyên phát và thứ phát

Share bài viết nếu bạn thấy bổ ích:

Bệnh tăng tiểu cầu bao gồm tăng tiểu cầu nguyên phát và tăng tiểu cầu thứ phát: Căn nguyên, sinh lý bệnh, triệu chứng dấu hiệu của từng loại

1- Bệnh tăng tiểu cầu là bệnh gì?

Tăng tiểu cầu là một tình trạng trong đó số lượng tiểu cầu trong máu quá nhiều. Tiểu cầu là các tế bào máu trong huyết tương, chúng di chuyển trong các mạch máu và kết dính với nhau (thành cục máu đông) để ngăn chặn sự chảy máu khi một mạch máu bị thương tổn.

Bình thường có khoảng từ 150.000 đến 450.000 tiểu cầu mỗi microlít máu. Quá nhiều tiểu cầu có thể dẫn đến một số tình trạng nhất định, bao gồm đột quỵ, đau tim hoặc cục máu đông trong mạch máu.

Bệnh tăng tiểu cầu (hay bệnh đa tiểu cầu) bao gồm tăng tiểu cầu nguyên phát (Thrombocythemia) và tăng tiểu cầu thứ phát (Thrombocytosis).


Thông tin về bệnh tăng tiểu cầu nguyên phát và thứ phát

Tăng tiểu cầu nguyên phát (Thrombocythemia)?

Tăng tiểu cầu nguyên phát là một rối loạn đông máu gây ra khi tủy xương sản xuất quá nhiều tiểu cầu. Tiểu cầu tăng cao có thể xảy ra đơn độc hoặc đi kèm với rối loạn của các tế bào khác trong máu. Số tiểu cầu có thể dao động từ 500.000μL đến hơn 1.000.000μL. Tình trạng này thường không phổ biến.

Nguyên nhân tăng tiểu cầu nguyên phát: điều này thường không được biết rõ, quá trình này diễn ra mà không ảnh hưởng đến các tế bào máu khác. Có một dạng tăng tiểu cầu nguyên phát hiếm gặp mang tính di truyền. Trong một số trường hợp, đột biến di truyền gây ra tình trạng đó.

Trong tăng tiểu cầu nguyên phát, các tiểu cầu không bình thường. Chúng có thể dưới hình thức huyết khối, hoặc ngược lại, gây chảy máu khi hoạt động không đúng mức. Chảy máu còn có thể xảy ra do một bệnh lý gọi là bệnh von Willebrand. Tình trạng này ảnh hưởng đến quá trình đông máu. Sau nhiều năm, bệnh có thể diễn tiến đến tình trạng tủy xương hoá sẹo.

Tăng tiểu cầu nguyên phát không phổ biến lắm. Số người bị bệnh chưa được biết chính xác, gặp chủ yếu trong độ tuổi từ 50 đến 70.

Tăng tiểu cầu thứ phát (Thrombocytosis)?

Tăng tiểu cầu thứ phát xảy ra khi một bệnh lý, một điều kiện, hoặc một tác nhân ngoại lai làm gia tăng số lượng tiểu cầu. Ví dụ, 35 % những người có tiểu cầu cao có thể bị thêm ung thư, đa số là ung thư phổi, ung thư ruột, ung thư vú, ung thư buồng trứng, và lymphoma. Đôi khi số lượng tiểu cầu cao lại chính là dấu hiệu đầu tiên của ung thư.

Một số nguyên nhân gây tăng tiểu cầu phản ứng bao gồm:

- Các rối loạn viêm mạn tính (ví dụ:, viêm khớp dạng thấp, viêm đại tràng, Lao, sarcoidosis, u hạt với viêm đa mạch)

- Nhiễm trùng cấp tính

- Xuất huyết

- Thiếu máu thiếu sắt

- Tan máu

- Ung thư

- Cắt lách hoặc suy lách

Ngoài ra còn có tăng tiểu cầu gia đình bẩm sinh như do đột biến gen thrombopoietin và gen thụ thể thrombopoietin. 

Tăng tiểu cầu thứ phát là tình trạng phổ biến hơn tăng tiểu cầu nguyên phát, hầu hết những người có số lượng tiểu cầu >500.000.

2- Dấu hiệu triệu chứng bệnh tăng tiểu cầu

Dấu hiệu triệu chứng tăng tiểu cầu xuất hiện là do sự tắc nghẽn mạch máu bởi cục máu đông và có thể bao gồm:

- Da bàn tay, bàn chân đỏ và ấm, thường đau rát (đau đỏ đầu chi)

- Ngứa và có cảm giác bất thường ở đầu ngón tay, bàn tay và bàn chân

- Đau ngực

- Mất thị lực hoặc nổ đom đóm mắt

- Đau đầu

- Yếu ớt

- Chóng mặt

- Chảy máu, thường nhẹ (ví dụ như chảy máu cam, dễ bầm tím, rỉ máu nhẹ từ nướu hoặc chảy máu trong đường tiêu hóa)

- Lách và gan có thể sưng to nhưng thường không đủ để gây ra các triệu chứng.

Bởi vì tăng tiểu cầu không có khả năng gây ra các triệu chứng, có thể sẽ không biết có vấn đề trừ khi xét nghiệm máu định kỳ cho thấy số tiểu cầu cao hơn so với bình thường. Nếu kết quả thử nghiệm máu cho thấy số lượng tiểu cầu cao, bác sĩ sẽ cố gắng xác định lý do.

3- Hậu quả của tăng tiểu cầu

Thường hay gây nên các huyết khối dẫn đến thuyên tắc mạch. Gây xuất huyết

Huyết khối: 

- Trong tăng tiểu cầu nguyên phát, cục máu đông thường phát triển ở não, tay và chân. Nhưng chúng cũng có thể xảy ra ở bất cứ vị trí nào trong cơ thể, kể cả ở tim và ruột.

- Cục máu đông ở não gây tai biến mạch não ra các triệu chứng đối với 25 % số bệnh nhân. Triệu chứng thường gặp là đau đầu và chóng mặt mãn tính. Có thể xảy ra đột quỵ trong những trường hợp nghiêm trọng.

- Cục máu đông trong mạch máu nhỏ khiến tay chân tê và đỏ. Điều này có thể dẫn đến cảm giác rát bỏng dữ dội và đau nhói chủ yếu ở lòng bàn tay và lòng bàn chân.

- Các dấu hiệu và triệu chứng của cục máu đông có thể bao gồm:

• Thay đổi về tiếng nói hoặc ý thức, từ lú lẫn đến ngất xỉu.

• Động kinh

• Nửa trên cơ thể: khó chịu ở một hoặc cả hai cánh tay, lưng, cổ, quai hàm, hoặc dạ dày

• Khó thở và buồn nôn (cảm giác khó chịu ở bụng)

• Cục máu đông hình thành trong nhau thai gây chết bào thai hoặc sẩy thai trong 1/2 số thai phụ có tăng tiểu cầu nguyên phát.

• Cục máu đông không chỉ liên quan với tăng tiểu cầu, mà còn với những yếu tố khác. Tuổi > 60, tiền sử huyết khối, đái tháo đường, tăng huyết áp, hút thuốc lá cũng tăng nguy cơ hình thành cục máu đông.

Xuất Huyết:

- Dấu hiệu của chảy máu bao gồm chảy máu cam, bầm tím xuất huyết, chảy máu từ miệng hoặc nướu răng, hoặc phân có máu. Mặc dù xuất huyết thường đi kèm với tiểu cầu thấp, nó cũng có thể xảy ra ở những người có số lượng tiểu cầu cao. Cục máu đông hình thành ở những trường hợp tăng tiểu cầu có thể sử dụng hết lượng tiểu cầu của cơ thể. Điều này có nghĩa là không còn đủ tiểu cầu trong máu để hàn gắn lại bất kỳ dấu vết cắt đứt hoặc tổn thương của các mạch máu.

- Một nguyên nhân khác gây chảy máu ở những bệnh nhân có tiểu cầu rất cao là tình trạng bệnh von Willebrand. Tình trạng này ảnh hưởng đến quá trình đông máu.

4- Điều trị bệnh tăng tiểu cầu nguyên phát và thứ phát

Điều trị tăng tiểu cầu nguyên phát:

- Hiện nay, tình trạng này được xem là ít nguy hiểm hơn so với trước kia và tiên lượng thường là tốt. Những bệnh nhân không có dấu hiệu hoặc triệu chứng thì không cần thiết phải điều trị, miễn là điều kiện sức khoẻ vẫn ổn định.

- Dùng aspirin có thể hữu ích cho những người có nguy cơ huyết khối, vì aspirin ngăn ngừa cục máu đông. Tuy nhiên, cần thận trọng khi sử dụng aspirin, vì nó có thể gây chảy máu. Các bác sĩ đều dùng thuốc aspirin cho đa số những phụ nữ mang thai có tăng tiểu cầu nguyên phát vì aspirin không gây nguy cơ cao cho thai nhi.

- Một số bệnh nhân tăng tiểu cầu nguyên phát có thể cần phải dùng đến thuốc hoặc thủ thuật y tế để giảm thiểu số lượng tiểu cầu của họ.

- Thuốc làm giảm số lượng tiểu cầu. Cần dùng thuốc để giảm số lượng tiểu cầu khi:

• Có tiền sử huyết khối hoặc chảy máu

• Có các yếu tố nguy cơ (như tăng cholesterol máu, tăng huyết áp, đái tháo đường)

• Lớn hơn 60 tuổi

• Số lượng tiểu cầu >1 triệu

Các thuốc này phải được dùng suốt đời.

Điều trị tăng tiểu cầu thứ phát:

- Tăng tiểu cầu thứ phát được xử lý bằng cách giải quyết những bệnh lý tiềm ẩn gây ra nó. Các bệnh nhân này thường không cần dùng đến thuốc men hoặc thủ thuật để giảm tiểu cầu.

- Tiểu cầu của họ nhìn chung là bình thường (khác với trường hợp tăng tiểu cầu nguyên phát). Ngoài ra, số lượng tiểu cầu của họ thường không đủ cao để gây nguy cơ cục máu đông hay chảy máu.

Hiện nay có thuốc Anagrelide Mylan 0.5 mg điều trị chứng tăng tiểu cầu nguyên phát hoặc thứ phát của Pháp rất hiệu quả. Thuốc Anagrelide được chỉ định để làm giảm số lượng tiểu cầu trong máu của bệnh nhân bị rối loạn tủy xương, trong đó cơ thể tạo ra quá nhiều một hoặc nhiều loại tế bào máu.

Liều dùng thuốc anagrelide

Anagrelide nằm trong nhóm thuốc gọi là thuốc giảm tiểu cầu. Nó hoạt động bằng cách làm chậm quá trình sản xuất tiểu cầu trong cơ thể..

Truy cập shopduoc.vn bạn sẽ đặt mua thuốc Anagrelide đúng chuẩn hàng Pháp chất lượng với giá thấp nhất. Liên hệ Dược Sỹ Trung - 0982.744.684 để được tư vấn cụ thể hơn.

5- Những điều cần lưu ý khi mắc bệnh tăng tiểu cầu 

• Đi khám bệnh thường xuyên.

• Tuyệt đối tuân chủ chế độ điều trị, không tự ý uống thêm thuốc hay sử dựng các thực phẩm mà chưa tham vấn bác sĩ điều trị.

• Nếu đang dùng thuốc để giảm số lượng tiểu cầu, cần thông báo cho bác sĩ hoặc nha sĩ biết trước khi thực hiện bất kì thủ thuật, phẫu thuật hoặc can thiệp nha khoa nào. Những loại thuốc làm giảm tiểu cầu có thể làm tăng chảy máu khi thực hiện các thủ thuật đó. Hoặc cũng có thể gây xuất huyết nội. Dấu hiệu của xuất huyết nội bao gồm các vết bầm tím, máu hoặc phân đen như hắc ín, nước tiểu màu hồng hoặc có máu, tăng chảy máu kinh nguyệt, chảy máu nướu răng, và chảy máu cam. Liên hệ ngay với bác sĩ nếu có các dấu hiệu kể trên.

• Chế độ ăn phù hợp, hạn chế muối. Tránh thức ăn nấu sẵn và đóng hộp.

• Kiểm soát cân nặng, thể dục thể thao hợp lý.

• Hạn chế rượu bia.

• Ngừng hút thuốc lá và kiểm soát các yếu tố nguy cơ hình thành cục máu đông, như tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng cholesterol trong máu v.v...

Bỏ thuốc lá là một trong những cách thức khả thi có thể giúp kiểm soát biến chứng.

ĐIỆN THOẠI LH: 0982744684

Ý kiến khách hàng

Tin khác

Scroll